ARTHUR KOESTLER
Người dịch: PHẠM ANH TUẤN
(trích trong sách ‘The Act of Creation’ của A. Koestler)

Trong bài viết này tôi thử đưa ra những nét đại cương về một lý
thuyết mà tôi đã trình bày cụ thể chi tiết trong một cuốn sách gần đây (xuất bản
năm 1964) và mở rộng lí thuyết này sang bước tiếp theo. Vấn đề tôi sẽ phát biểu,
nói một cách ngắn gọn, là các quá trình hữu thức và vô thức tham gia vào mọi
hình thái của hoạt động sáng tạo là có chung một mẫu thức cơ bản. Khi tôi nói về
ba hình thái của sáng tạo thì đó là tôi muốn nói tới lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật,
phát minh khoa học và cấu tứ hài. Tôi tin rằng mọi hoạt động sáng tạo đều rơi
vào một loại hoạt động này hoặc hoạt động kia trong ba lĩnh vực trên hoặc, một
cách thường xuyên hơn, rơi vào sự kết hợp nào đó của cả ba. Nếu ta nói về, chẳng
hạn, nấu ăn như là “sáng tạo” thế tức là ta tự động ngụ ý rằng nấu ăn hoặc là một
nghệ thuật hoặc là một môn khoa học hoặc là cả hai.
Để mô tả cái mẫu thức ấy, trước tiên hãy thử bắt đầu bằng một điều đơn giản thế
này: hoạt động sáng tạo nằm ở việc kết hợp các cấu trúc trước đó chúng chẳng
liên quan gì theo cách thức sao cho từ sự kết hợp ấy ta có thêm được nhiều hơn
so với những gì ta đã đưa vào. Điều này nghe có vẻ như là việc tạo ra một cái
perpetuum mobile [cái chuyển động vĩnh cửu], và hiểu theo một nghĩa nào đó thì đúng
là thế, bởi lẽ sự tiến hóa của trí óc, giống như tiến hóa sinh học, dường như
mâu thuẫn với định luật thứ hai của động lực học theo đó vạn vật chuyển động
theo chiều đi xuống, tựa như hiện tượng “mỏi” của kim loại [metal fatigue]. Nhưng
chúng ta sẽ không đi vào vấn đề này; thay vì vậy tôi xin minh họa bằng một vài
cuốn sách giáo khoa để làm ví dụ cho điều tôi vừa nói là sự kết hợp của các quá
trình trước đó không liên quan với nhau.
LIÊN TƯỞNG VÀ LIÊN TƯỞNG LƯỠNG DIỆN
Từ xa xưa con người đã biết đến sự chuyển động của thủy triều.
Con người cũng biết đến sự chuyển động của mặt trăng. Song ý tưởng liên hệ hai
sự chuyển động này, ý tưởng cho rằng thủy triều là do sức hút của mặt trăng đã
xuất hiện, trong chừng mực chúng ta được biết, lần đầu tiên là ở một nhà thiên
văn học người Đức ở thế kỷ 17, và khi Galileo đọc được điều này thì ông đã cười
phá lên vì coi đó là một điều tưởng tượng ngông cuồng thần bí (Santillana,
1953, tr. 469). Bài học rút ra: mỗi một cấu trúc trước đó chẳng liên quan gì
càng quen thuộc thì sự tổng hợp càng gây ấn tượng, càng hiển nhiên hơn. Điều
này giống như việc người lái xe nhìn vào cái gương chiếu hậu vậy.
Lịch sử khoa học là một lịch sử của những sự hôn phối giữa những ý tưởng vốn trước đó xa lạ với nhau, và thường là bị coi là không tương thích với nhau. Đá nam châm được biết tới vào thời cổ đại, nó được coi là một vật tự nhiên gây ra sự hiếu kì. Ở thời Trung cổ người ta dùng nó vào hai mục đích: làm la bàn cho người đi biển và làm phương tiện để lôi cuốn một phụ nữ bị li gián quay trở về với chồng. Người ta cũng biết nhiều thuộc tính kì lạ của hổ phách, đó là khi được chà xát thì nó có công dụng hút những vật nhẹ mỏng. Từ hổ phách
[amber]
trong tiếng Hi Lạp là elektron, song người Hi Lạp không quan tâm tới điện
[electricity]
, người ở thời Trung cổ cũng thế. Trong gần hai nghìn năm, điện và từ tính được coi là hai hiện tượng tách rời nhau, không hề có liên quan với nhau. Năm 1820, Hans Christian Oested phát hiện thấy một dòng điện chạy qua một dây dẫn thì làm lệch hướng kim của chiếc la bàn vô tình được đặt bên dưới bàn làm việc của ông. Lúc ấy hai tình huống bắt đầu kết hợp thành một – điện từ
[electromagnetism]
– qua đó tạo ra một thứ phản ứng dây chuyền, phản ứng này vẫn
tiếp tục diễn ra và gia tăng về xung lượng; một thứ hổ phách vĩnh cửu.
Kể từ Pythagoras, là người đã kết hợp số học với hình học, cho tới Einstein là người đã hợp nhất năng lượng và vật chất thành một phương trình độc nhất mà sau này đã đem lại tai họa, thì cái mẫu thức bao giờ cũng là như nhau. Từ cogito tiếng La Tinh có nguồn gốc từ coagitare nghĩa là “trộn lẫn nhiều thứ cùng với nhau” [shake together]. Hành động sáng tạo không tạo ra cái gì từ hư không như Thượng đế của Cựu Ước; sáng tạo là hành động kết hợp, xáo trộn và liên hệ những ý tưởng, sự kiện, khung khổ tri giác, những tình huống gợi liên tưởng vốn đã hiện hữu song cho tới lúc đó vẫn tách rời nhau. Hành động “thụ tinh chéo” này – hay là tự thụ tính chính mình, ở trong một bộ não độc nhất – dường như là bản chất của sáng tạo. Tôi đã đề xuất gọi đó bằng thuật ngữ liên tưởng lưỡng diện
[bisociation]
. Đây không phải là một từ hay, song nó giúp chúng ta phân biệt giữa
bước nhảy đột xuất của hành động sáng tạo và thói quen tư duy liên tưởng thông
thường tẻ nhạt.
Có thể mô tả sự khác biệt giữa hai hành động này như sau. Tư duy
có trật tự (để phân biệt với trạng thái mơ màng [daydreaming] bao giờ cũng bị
kiểm soát bởi những qui tắc trò chơi nào đó. Ở trong phòng thí nghiệm tâm lí học,
nhà thực nghiệm đề ra nguyên tắc: “Hãy gọi tên cái đối lập”. Rồi ông ta nói, “tối”
và thế là đối tượng thực nghiệm lập tức nói “sáng”. Nhưng nếu qui tắc là “từ đồng
nghĩa”, thế thì đối tượng thực nghiệm sẽ liên tưởng “tối” với “đen” hoặc với “đêm”
hay với “bóng tối”. Nói về sự kích thích mà tách rời khỏi mọi bối cảnh thì là
vô nghĩa; cái gì đáp trả một kích thích thì phụ thuộc vào trò chơi chúng ta đang
chơi lúc ấy.
Song chúng ta không sống ở trong các phòng thí nghiệm nơi các qui tắc của trò chơi được đề ra bởi những mệnh lệnh tường minh; trong cuộc sống bình thường thì các qui tắc lại kiểm soát quá trình suy nghĩ của chúng ta một cách vô thức – và vấn đề gay go là ở chỗ đó. Khi chúng ta đang nói thì các nguyên tắc về ngữ pháp và cú pháp hoạt động ở bên dưới cấp độ của ý thức, chúng hoạt động ở những khoảng trống giữa các từ. Một số những nguyên tắc đơn giản nào đó của lôgic thông thường, của phép xã giao và qui ước, và cả những nguyên tắc cũng hoạt động như vậy. Ngoài ra còn là những nguyên tắc chuyên biệt và phức tạp mà chúng tôi gọi là những “khung qui chiếu” hay “thế giới của diễn ngôn”
[universe of discours]
hoặc “quá trình tư duy trên phương diện của” cái này hay cái kia – về những sự lí giải sinh lí học hoặc về những phán đoán giá trị đạo đức. Mọi quá trình tư duy đều hoạt động theo những qui tắc cố định và những chiến lược ít nhiều linh hoạt. Chơi cờ vua cho phép ta có rất nhiều những lựa chọn chiến lược trong những nước đi được các qui tắc cho phép, song có một giới hạn cho những qui tắc ấy. Trong cờ vua có những tình huống vô vọng, ấy là khi hầu hết các chiến lược khôn khéo đều không cứu được bạn – trừ phi bạn mời đối thủ một li Martini to. Thế mà thực ra thì trong cờ vua chẳng có qui tắc nào ngăn cản bạn mời đối thủ một li Martini. Nhưng làm cho đối thủ say rượu trong khi mình vẫn tỉnh táo là một loại trò chơi khác, đi kèm theo đó là một tình huống khác. Kết hợp hai trò chơi này là một sự liên tưởng lưỡng diện. Nói khác đi, thói quen liên tưởng thông thường nghĩa là suy nghĩ theo một tập hợp các qui tắc đã cho, có thể gọi là suy nghĩ trên một bình diện độc nhất. Còn hành động liên tưởng lưỡng diện là việc kết hợp hai tập hợp hợp qui tắc khác nhau, là sống cùng lúc trên nhiều bình diện.
(còn tiếp)
Nguồn: https://www.facebook.com/kunquyenhalan2018/posts/319326462354143